Đang tải dữ liệu...

 

 Trang chủ | Giới thiệu chung | Văn bản pháp luật | Đường dây nóng | Diễn đàn Thanh tra | Liên hệ | E-Mail 
Bài viết
Tìm hiểu luật phòng chống tham nhũng
Phần 3: Phát hiện và xử lý tham nhũng
   
04:16' PM - Thứ hai, 24/09/2007
Ảnh minh họa
Bài liên quan:
  • Phần 2: Một số vấn đề về công khai minh bạch []
  • Tìm hiểu Luật phòng, chống tham nhũng - Phần 1 []
  • 5.1.4. Trách nhiệm của người đứng đầu, cá nhân có trách nhiệm trong các tổ chức khác

    Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước về việc để xảy ra hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và điều lệ, quy chế của tổ chức đó.

    5.1.5. Trường hợp loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu

    Việc đảm bảo xử lý đúng đắn trách nhiệm của người đứng đầu phải gồm hai yếu tố: thứ nhất, không được bỏ lọt trách nhiệm; thứ hai, không được áp đặt trách nhiệm pháp lý một cách không hợp lý. Đây là một quy định rất thực tế. Bởi vì, nhiều cơ quan, tổ chức có đặc thù công tác trên địa bàn rộng, thậm chí là trên toàn quốc như cơ quan Thanh tra, Kiểm toán, Cảnh sát giao thông nên việc kiểm soát hoàn toàn hành vi của những cán bộ, công chức ở những cơ quan này là rất khó khăn. Nhiều trường hợp người đứng đầu không thể biết được hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức dưới quyền hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể ngăn chặn được. Vì vậy, Luật quy định: trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 54 được loại trừ trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

    5.2. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 55)

    5.2.1. Xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự

    Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    5.2.2. Xử lý kỷ luật

    Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật.

    5.2.3. Trường hợp miễn, giảm trách nhiệm pháp lý

    Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 55 Luật Phòng, chống tham nhũng nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

    5.2.4. Kết luận về các mức độ trách nhiệm của người đứng đầu trong vụ việc, vụ án tham nhũng

    Để có cơ sở cho việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    Trong kết luận thanh tra, kết luận kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:

    - Yếu kém về năng lực quản lý;

    - Thiếu trách nhiệm trong quản lý;

    - Bao che cho người có hành vi tham nhũng.

    Kết luận phải được gửi cho Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

    6. Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán (Mục 6)

    6.1. Cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng (Điều 56)

    Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hóa và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

    6.2. Tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong quản lý (Điều 57)

    - Cơ quan, tổ chức, đơn vị thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    - Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức.

    6.3. Đổi mới phương thức thanh toán (Điều 58)

    - Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý để thực hiện việc thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, Kho bạc nhà nước. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản.

    - Chính phủ áp dụng các giải pháp tài chính, công nghệ tiến tới thực hiện mọi khoản chi đối với người có chức vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng và các giao dịch khác sử dụng ngân sách nhà nước phải thông qua tài khoản.

    III. PHÁT HIỆN THAM NHŨNG (CHƯƠNG III)

    Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra những vụ việc tham nhũng và có những biện pháp để kịp thời hạn chế những thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của những người có hành vi vi phạm để có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Cũng như trong công tác phòng, chống tham nhũng nói chung thì việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát, kiểm toán cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Luật quy định việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu:

    - Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước;

    - Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán;

    - Tố cáo của công dân.

    1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước (Mục 1)

    Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tùy từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Điều 59 Luật Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    “1. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng.

    2. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan Thanh tra, Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền”.

    Ngoài ra, Luật Phòng, chống tham nhũng cũng quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tự kiểm tra nội bộ cơ quan, tổ chức mình, kiểm tra việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức do mình quản lý để phát hiện tham nhũng. Người Thủ trưởng phải nắm bắt được các quy trình, thủ tục thực hiện công vụ và xác định những khâu nào trong quy trình công tác, bộ phận nào trong cơ quan, đơn vị mình có thể xảy ra việc hà lạm, bớt xén công quỹ hoặc những công việc mà pháp luật quy định những thủ tục còn rườm rà, phức tạp có thể dẫn đến việc công chức sách nhiễu, vòi vĩnh để phát hiện kịp thời những hành vi sai trái và có biện pháp xử lý thích đáng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý nghiêm khắc. Điều 60 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    “1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân và cán bộ, công chức, viên chức khác do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng.

    2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc người đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý.

    3. Khi phát hiện hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan Thanh tra, Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền”.

    Để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, thậm chí lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn, phiền hà cho đồng nghiệp và công dân, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các hình thức kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp phải kiểm tra đột xuất thì phải có những điều kiện nhất định chứ không được tùy tiện:

    - Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng.

    - Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng (Điều 61).

    2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát (Mục 2)

    Đây là những hoạt động chủ yếu trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng. Các cơ quan Thanh tra, Điều tra, Kiểm toán nhà nước, Viện Kiểm sát, Tòa án và cơ quan giám sát có chức năng bảo vệ pháp luật và kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm trong đó có tham nhũng. Đây là lực lượng chính trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật. Chính vì vậy mà các hoạt động này được quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước như Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Về hoạt động giám sát của Quốc hội. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định như sau:

    - Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình (Điều 62).

    - Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 63).3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng (Mục 3)

    Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận.

    Theo đó, tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo).

    Tố cáo và trình tự, thủ tục giải quyết cũng như trách nhiệm giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng. Trước hết, Luật quy định quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng đồng thời cũng xác định trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo:

    “1. Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

    2. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

    3. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 64).

    Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Đặc biệt, Luật nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe dọa trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người bị tố cáo là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách để trả thù người tố cáo hoặc trù dập, bưng bít sự việc mà người tố cáo phát hiện cho Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước phải có những cơ chế hữu hiệu để bảo vệ cho người tố cáo. Có như vậy công dân mới vững tin và tích cực phát hiện các hành vi tham nhũng để cơ quan nhà nước kịp thời xử lý.

    Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    “1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

    2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền; giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu”.

    Luật cũng quy định trách nhiệm chủ yếu có tính chất đầu mối trong việc xử lý các tố cáo về hành vi tham nhũng là cơ quan Thanh tra, cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát như sau:

    “3. Cơ quan Thanh tra có trách nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý, trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

    Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát nhận được tố cáo về hành vi tham nhũng phải xử lý theo thẩm quyền” (Điều 65).

    Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, hạn chế thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

    Một vấn đề khác nữa cũng được Luật quy định, đó là vấn đề khen thưởng cho người tố cáo hành vi tham nhũng. Quy định việc khen thưởng vật chất cho người tố cáo hành vi tham nhũng đã góp phần thu hồi tài sản bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt sẽ động viên, khuyến khích nhân dân tham gia vào đấu tranh chống tham nhũng. Nhiều nước trong đó có Trung Quốc có quy định cụ thể việc thưởng vật chất cho người tố cáo tham nhũng. Ngay pháp luật nước ta cũng đã từng có quy định cụ thể về vấn đề này, tại Pháp lệnh Trừng trị tội hối lộ năm 1981 đã quy định thưởng 10% giá trị của hối lộ cho người tố cáo. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá phức tạp, việc xác định số lượng tài sản bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt cũng như xác định mức độ đóng góp của những cơ quan, tổ chức cá nhân trong đó có người tố cáo trong việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, bảo vệ và thu hồi tài sản của Nhà nước là vấn đề rất khó. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đưa ra quy định mang tính nguyên tắc về việc khen thưởng cho người tố cáo, còn những vấn đề cụ thể về điều kiện, mức độ, hình thức khen thưởng... sẽ tiếp tục nghiên cứu và được quy định trong các văn bản sau này trên cơ sở các quy định chung của Nhà nước về vấn đề khen thưởng.

    Theo đó, Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần theo quy định của pháp luật”. IV. XỬ LÝ HÀNH VI THAM NHŨNG VÀ CÁC HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÁC (CHƯƠNG IV)

    Chương lV quy định về xử lý hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác gồm 2 mục 4 điều (từ Điều 68 đến Điều 71).

    Điểm mới và có ý nghĩa quan trọng của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được quy định tại Chương này là ngoài việc xử lý người có hành vi tham nhũng, luật còn quy định việc xử lý tài sản tham nhũng. Quy định này cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý nghiêm khắc, triệt để, cương quyết thu hồi tài sản do tham nhũng mà có. Thực tế cho thấy, có nhiều vụ việc tham nhũng đã bị phát hiện và xử lý, nhưng tài sản tham nhũng không thu hồi được hoặc mức độ thu hồi rất hạn chế, dẫn tới hiệu quả dấu tranh phòng, chống tham nhũng không cao.

    Chương này gồm những nội dung chính sau:

    1. Xử lý kỷ luật, xử lý hình sự (Mục 1)

    1.1. Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự (Điều 68)

    Luật Phòng, chống tham nhũng quy định khá rõ các đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, ngoài các đối tượng thực hiện các hành vi bị coi là hành vi tham nhũng (Điều 3), Luật còn quy định một số đối tượng khác thực hiện các hành vi vi phạm quy định của Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng cũng có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự. Quy định này có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người có trách nhiệm, quyền hạn, cũng như của cá nhân, công dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể, những người bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm:

    - Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 (bao gồm 12 hành vi tham nhũng).

    Đây là đối tượng có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Đối tượng này trực tiếp thực hiện các hành vi tham nhũng và là đối tượng chủ yếu mà Luật Phòng, chống tham nhũng hướng tới điều chỉnh.

    Ở đây cần lưu ý, đối tượng trên thực hiện hành vi tham nhũng nào thì bị xử lý hình sự, hành vi tham nhũng nào thì bị xử lý kỷ luật. Về nguyên tắc, chỉ có 7 hành vi đầu quy định ở Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng là có thể xử lý hình sự về tội phạm tham nhũng (theo các tội danh tương ứng quy định trong Bộ luật Hình sự), còn hình thức xử lý kỷ luật có thể áp dụng cho tất cả 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3.

    - Người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng.

    Đối tượng này không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng, nhưng qua hoạt động công tác của mình, họ biết được có người thực hiện hành vi tham nhũng, trong trường hợp này pháp luật yêu cầu họ phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo, tố giác hành vi tham nhũng đó.

    - Người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng.

    Đây có thể là người có thẩm quyền xử lý các báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng, cũng có thể là người không có thẩm quyền nhưng trực tiếp tiếp nhận các báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng. Trường hợp này họ phải có nghĩa vụ chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền xử lý. Trong thời hạn luật định họ có nghĩa vụ xử lý kịp thời các báo cáo, tố giác, tố cáo đó, nếu không xử lý, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự. Quy định này nhằm tránh tình trạng cá nhân có thẩm quyền né tránh trách nhiệm, chậm xử lý, hoặc không xử lý những báo cáo, tố giác, tố cáo về các hành vi tham nhũng.

    - Người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.

    Đối tượng được quy định ở khoản này có thể là người trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng, sau khi bị xử lý có hành vi đe dọa, trả thù người đã phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của mình cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý hoặc có thể là đối tượng không trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng (ví dụ cấp dưới hoặc gia đình, họ hàng, bạn bè của người đã bị xử lý về hành vi tham nhũng) có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của cấp trên, người thân của họ.

    - Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

    Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng ngừa, chống tham nhũng.

    - Người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Các đối tượng theo quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 68 thì tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà có thể xử lý kỷ luật, xử lý hình sự.

    1.2. Xử lý đối với người có hành vi tham nhũng (Điều 69)

    Người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều lưu ý ở quy định này là đối với người có hành vi tham nhũng đã bị xử lý về mặt hình sự thì đồng thời cũng phải chịu xử lý kỷ luật với hình thức buộc thôi việc, điều này thể hiện thái độ kiên quyết của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý người có hành vi tham nhũng. Theo đó, người có hành vi tham nhũng đã bị xử lý hình sự, không căn cứ vào hình phạt nặng hay nhẹ đều bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc; đối với đại biểu các cơ quan quyền lực nhà nước thì đương nhiên bị mất quyền đại biểu.

    2. Xử lý tài sản tham nhũng (Mục 2)

    Xử lý tài sản tham nhũng là vấn đề quan trọng, bởi tài sản là đối tượng chủ yếu mà những kẻ thực hiện hành vi tham nhũng hướng tới. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các nguyên tắc cơ bản trong việc xử lý tài sản tham nhũng là cần thiết. Trên thực tế, công tác xử lý tài sản tham nhũng còn nhiều bất cập, hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng không cao, nhiều trường hợp phát hiện tham nhũng nhưng không thu hồi được tài sản tham nhũng. Tình trạng đó diễn ra là vì một phần chưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng, một phần vì không kiểm soát được tài sản của đối tượng thực hiện hành vi tham nhũng, nên vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt khi tài sản tham nhũng được tẩu tán ra nước ngoài. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về xử lý tài sản tham nhũng như sau:

    2.1. Nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng (Điều 70)

    - Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

    Nhận thức được tính quan trọng của việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng, Luật nêu nguyên tắc quy định trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

    - Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.

    Trong trường hợp tài sản của công dân, tổ chức bị chiếm đoạt bởi các hành vi tham nhũng thì phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. Trường hợp tài sản đó được sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi trái pháp luật thì được coi là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi trái pháp luật, trường hợp này tài sản phải được sung quỹ nhà nước.

    - Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.

    Quy định này đặt ra theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác các hành vi nhận hối lộ. Thực tế cho thấy việc xử lý cả người đưa hối lộ khi họ đã chủ động khai báo là không công bằng. Bộ luật Hình sự cũng quy định người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác có thể được trả một phần hoặc toàn bộ tài sản đã dùng để hối lộ. Do vậy, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì đương nhiên được trả lại toàn bộ tài sản đã dùng để hối lộ.

    - Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Quyền tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp. Do đó, việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng phải được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục luật định. Quy định này tránh tình trạng tùy tiện, lạm dụng của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

    2.2. Thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài (Điều 71)

    Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp.

    Xét về hiệu quả việc thu hồi các tài sản tham nhũng, quy định này là quy định có lợi cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việc Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ các nước trong việc thu hồi tài sản tham nhũng là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quy định này đặt nền tảng cho việc xây dựng cơ chế đảm bảo cho việc thu hồi các tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Chế định thu hồi tài sản tham nhũng là nội dung quan trọng nhất của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, trong đó, thu hồi tài sản được coi là mục đích cao nhất của Công ước.

    (Còn tiếp)

    Số lượt đọc:  799  -  Cập nhật lần cuối:  24/09/2007 04:17:11 PM
    Tin mới
    Có nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật!?
    Hàng loạt phi vụ mờ ám ở Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt
    Nghệ An: hơn 6 tỉ đồng đang "trơ gan cùng tuế nguyệt"
    Xử lý kết luận sau thanh tra dự án đường vành đai 3 Hà Nội, đoạn Mai Dịch - Pháp Vân
    Thanh tra Chính phủ đang hoàn tất kết luận 7 cuộc thanh tra
    Bài 2: khi doanh nghiệp điện độc quyền
    Độc quyền - Có quyền áp đặt!?
    Bài viết mới nhất
    Tham nhũng - con số
    Đơn thư
    Sai phạm tại Hải quan HN và TP.HCM
    Thanh tra Chính phủ tiếp nhận 6.778 đơn
    Chỉ số nhận thức tham nhũng Việt Nam
    Quốc hội Nhật Bản đã bầu ông Yasuo Fukuda làm Tân Thủ Tướng
    Xin lỗi
     Trang chủ | Thông tin bản quyền | Sơ đồ web | Đường dây nóng