Đang tải dữ liệu...

 

 Trang chủ | Giới thiệu chung | Văn bản pháp luật | Đường dây nóng | Diễn đàn Thanh tra | Liên hệ | E-Mail 
Bài viết
Tìm hiểu luật phòng chống tham nhũng
Phần 2: Một số vấn đề về công khai minh bạch
   
10:32' AM - Thứ năm, 20/09/2007
Bài liên quan:
  • Phần 3: Phát hiện và xử lý tham nhũng []
  • Nhằm góp phần nâng cao nhận thức trong xã hội về Luật Phòng, chống tham nhũng; tạo chuyển biến tích cực trong công tác phòng, chống, tiến tới đẩy lùi nguy cơ này. Website Thanh tra Chính phủ đã giới thiệu tới bạn đọc phần 1: những vấn đề chung về tham nhũng và phòng chống tham nhũng. Phần tiếp theo của bài viết là những vấn đề về công khai và minh bạch được quy định trong Luật phòng chống tham nhũng. BBT xin trân trọng giới thiệu.

    1.2.9. Công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước (Điều 25)

    Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm toán nhà nước là những hoạt động rất quan trọng trong việc đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Kết quả của thanh tra và kiểm toán hầu hết đều có kết luận về sai phạm kinh tế và trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện thông qua công tác thanh tra, kiểm toán. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều trường hợp kết luận thanh tra và kiểm toán có những vấn đề mà dư luận thường thắc mắc, nhất là những thay đổi trong quá trình kết luận và xử lý kết quả thanh tra, kiểm toán. Để làm rõ tính công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    - Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước phải được tiến hành công khai theo quy định của pháp luật.

    - Văn bản, quyết định sau đây phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:

    + Kết luận thanh tra;

    + Quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định giải quyết tố cáo;

    + Báo cáo kiểm toán.

    1.2.10. Công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân (Điều 28)

    Pháp lệnh Chống tham nhũng đã có quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, những quy định của Pháp lệnh còn tương đối chung chung và chưa đầy đủ. Luật Phòng, chống tham nhũng đã bổ sung và hoàn thiện các quy định của Pháp lệnh tạo nên một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ để đấu tranh chống hiện tượng tham nhũng vặt. Có thể thấy rất nhiều quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng được thiết kế nhằm ngăn ngừa tham nhũng vặt, chẳng hạn như quy định về hành vi nhũng nhiễu, công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng đất, nhà ở. Khoản 1 Điều 28 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định rất chi tiết về các lĩnh vực phải công khai trong hoạt động giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân, cụ thể là:

    “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực nhà, đất, xây dựng, đăng ký kinh doanh, xét duyệt dự án, cấp vốn ngân sách nhà nước, tín dụng, ngân hàng, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý hộ khẩu, thuế, hải quan, bảo hiểm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải công khai thủ tục hành chính, giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật và đúng yêu cầu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân”.

    Đồng thời, để tránh hiện tượng cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nhũng nhiễu, gây phiền hà hoặc dây dưa trong khi giải quyết công việc, khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Luật này quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết công việc của mình giải thích rõ những nội dung có liên quan. Khi nhận được đề nghị của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải kịp thời giải thích công khai. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải thích chưa thỏa đáng hoặc cố tình gây khó khăn, phiền hà thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền kiến nghị lên cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

    1.2.11. Công khai, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp (Điều 29)

    Lĩnh vực tư pháp trên thực tế cũng đã xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực và cũng cần phải được công khai, minh bạch hóa. Đây là một lĩnh vực đặc thù và đã được quy định rất chi tiết trong pháp luật về tố tụng. Luật Phòng, chống tham nhũng chỉ quy định nguyên tắc chung về công khai, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, việc thụ lý, điều tra, truy tố, kiểm sát, xét xử, thi hành án phải được công khai theo quy định của pháp luật về tố tụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    1.2.12. Công khai, minh bạch trong công tác tổ chức - cán bộ (Điều 30)

    Công tác tổ chức - cán bộ có vai trò hết sức quan trọng là khâu quyết định trong quản lý nhà nước. Thực tế cho thấy đã có không ít trường hợp tiêu cực trong tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng cán bộ, công chức, viên chức. Hiện tượng “chạy chọt” để được tuyển dụng, lên chức hoặc khen thưởng đang ngày một trở nên đáng lo ngại. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định hai mức độ công khai đối với các hoạt động trong công tác tổ chức - cán bộ.

    Theo đó, mức độ công khai thứ nhất là công khai rộng rãi về số lượng, tiêu chuẩn, hình thức và kết quả tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác. Mức độ công khai thứ hai là công khai trong phạm vi cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc về việc quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, chuyển ngạch, luân chuyển, điều động, khen thưởng, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật, hưu trí. Việc phân định như vậy là hợp lý, vừa đảm bảo được tính công khai, minh bạch của công tác tổ chức - cán bộ vừa đảm bảo yếu tố nội bộ trong những trường hợp cần thiết.

    1.2.13. Kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước (Điều 20)

    Hiện nay, Nhà nước coi kiểm toán là một công cụ hữu hiệu trong chống tham nhũng, bao gồm cả kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã dành rất nhiều điều khoản quy định về kiểm toán. Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm và ở một khía cạnh nào đó là khuyến nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng kiểm toán như một công cụ làm minh bạch hóa công tác tài chính của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện việc kiểm toán và chịu sự kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước theo quy định của pháp luật về kiểm toán.

    1.2.14. Công khai báo cáo hằng năm về phòng, chống tham nhũng (Điều 33)

    Việc báo cáo công khai hằng năm về công tác phòng, chống tham nhũng của cả nước cũng như từng địa phương là một hoạt động rất cần thiết, giúp các cơ quan nhà nước cũng như xã hội định kỳ đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở cho việc triển khai công tác cho thời gian tiếp theo. Việc công khai báo cáo là một hình thức rất tốt để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan. Tổ chức và cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Đây đồng thời cũng là một yêu cầu quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Theo đó, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    - Hằng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương;

    - Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng phải được công khai.

    2. Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn (Mục 2)

    Nhà nước đặt ra các chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý liên quan mật thiết đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước. Việc thực hiện một cách tùy tiện hoặc làm trái các tiêu chuẩn chế độ, định mức đó sẽ dẫn đến việc tài sản của Nhà nước bị thất thoát, tiền bạc hoặc những lợi ích vật chất bằng cách này, cách khác rơi vào một số người.

    Thực chất đó là sự hưởng lợi bất chính cần ngăn chặn.

    Thông thường có hai loại tiêu chuẩn chế độ định mức bị vi phạm liên quan đến tham nhũng:

    Một là, các chế độ, định mức tiêu chuẩn về lợi ích, nhất là các chế độ đối với người có chức vụ quản lý: chẳng hạn, chế độ phục vụ, chế độ dùng xe công, tiêu chuẩn dùng điện thoại,... Vi phạm trong việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn này thường có hai dạng như sau:

    - Tự ý tăng mức được hưởng, tức là hưởng hoặc sử dụng kinh phí, tài sản vượt mức mà Nhà nước quy định;

    - Tự ý mở rộng đối tượng được hưởng tức là người không thuộc diện được hưởng một chế độ, lợi ích nào đó nhưng cũng đã được thụ hưởng.

    Hai là, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn có tính chất chuyên môn kỹ thuật: đó là những quy định để bảo đảm chất lượng các công trình, quy trình,... với những yêu cầu chính xác cao về kỹ thuật, thời gian, nguyên vật liệu,... Việc tự ý thay đổi, hạ thấp tiêu chuẩn này sẽ dẫn đến việc một số người được hưởng lợi, thực chất là tham nhũng. Biểu hiện điển hình của loại vi phạm này chính là hiện tượng hạ thấp chi phí thực tế thông qua việc hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật để chia nhau hưởng lợi.

    Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã có các quy định nhằm bảo đảm việc xây dựng, thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn cũng như trách nhiệm pháp lý trong trường hợp để xảy ra vi phạm, cụ thể:

    Điều 34 Luật này quy định về xây dựng, ban hành và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn như sau:

    - Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

    - Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định nêu trên hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

    Điều 35 Luật này quy định về kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn như sau:

    - Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và xử lý kịp thời hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

    - Người có hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bị xử lý theo quy định của pháp luật;

    - Người cho phép sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng vượt quá; người sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được sử dụng vượt quá;

    - Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ thuật thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn - kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được hưởng lợi.

    Có thể thấy rất rõ người cho phép sử dụng hoặc thực hiện trái chế độ, định mức, tiêu chuẩn và người sử dụng, hưởng lợi từ việc sử dụng, thực hiện sai trái đó đều phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình. Trong đó, để đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền, Luật quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về người cho phép sử dụng hoặc thực hiện sai trái mặc dù có thể người này không trực tiếp sử dụng hoặc hưởng lợi. Người được hưởng lợi phải liên đới bồi thường.

    3. Quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Mục 3)

    Với mục đích xây dựng một khuôn khổ pháp lý căn bản cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng thể hiện tinh thần nhất quán trong việc xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân mà trước hết thuộc trách nhiệm của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Mặc dù là một văn bản pháp lý quy định khá toàn diện nhưng nhìn chung các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn tập trung vào đối tượng là những người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền. Những biện pháp này khá đa dạng và tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau.

    Trên quan niệm chung như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã đưa ra nhiều giải pháp liên quan đến cán bộ, công chức như sau:

    3.1. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

    Xây dựng và áp dụng các chuẩn mực xử sự đối với đội ngũ công chức là một biện pháp quan trọng đã được cộng đồng quốc tế sử dụng rộng rãi nhằm đảm bảo tính công bằng, liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong thực thi quyền lực nhà nước. Việt Nam đã có những quy định về quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, những điều cán bộ, công chức không được làm. Tuy nhiên, những quy định đó còn tản mạn và chưa thật sự đầy đủ, chưa tạo thành một bộ phận quy tắc ứng xử toàn diện, đồng bộ.

    Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã rất chú trọng quy định về nội dung này nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện bộ quy tắc ứng xử toàn diện và phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức.

    3. 1. 1. Khái niệm quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức (Điều 36)

    Lần đầu tiên khái niệm về quy tắc ứng xử đã được xây dựng và quy định thành luật. Theo đó, Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức”.

    Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành.

    3. 1.2. Những việc cán bộ, công chức không được làm

    Đây là nội dung đã quy định một phần trong Pháp lệnh Chống tham nhũng và Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Những điều cấm tập trung vào việc ngăn ngừa các hành vi có thể dẫn đến tham nhũng trong quá trình thi hành chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức. Quy định về vấn đề này có tính kế thừa các pháp lệnh trước đó, đồng thời có bổ sung những nội dung cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đấu tranh chống những biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định như sau:

    “1. Cán bộ, công chức, viên chức không được làm những việc sau đây:

    a) Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;

    b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

    c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;

    d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

    đ) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.

    2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

    3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

    4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.

    5. Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.

    6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

    a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;

    b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân”.

    Quy định về những điều cán bộ, công chức, viên chức không được làm có một số điểm mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng và Pháp lệnh Cán bộ, công chức, cụ thể là:

    - Cán bộ, công chức, viên chức không được kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ.

    Đây là một biện pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa việc cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng ảnh hưởng, quan hệ và thông tin có được từ khi giữ chức vụ để phục vụ lợi ích cá nhân, thậm chí là cả hiện tượng cán bộ, công chức, viên chức khi còn tại vị đã cố tình bằng các biện pháp có thể “dọn đường” cho việc kinh doanh của mình sau khi rời chức vụ. Quy định này cũng đồng thời là một yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

    - Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình.

    Quy định trên có ý nghĩa hết sức cần thiết cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay. Một trong những hành vi tham nhũng phổ biến nhất, tinh vi, phức tạp và gây thiệt hại nhiều nhất là hành vi cấu kết giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của người thân để chuyển các hợp đồng, quan hệ đối tác, thị phần của doanh nghiệp nhà nước ra ngoài hoặc để nhận thầu của doanh nghiệp nhà nước một cách không minh bạch. Quy định nói trên có tác dụng ngăn ngừa ngay từ đầu những hành vi nói trên. Tuy nhiên, quy định này cần phải hướng dẫn chi tiết hơn nữa để có thể thực hiện được trên thực tế.

    3. 1. 3. Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

    Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998. Thực tế cho thấy, đa số các vụ việc tham nhũng được phát hiện “từ bên ngoài”, trong khi đó những thông tin hay biểu hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thì không được phát giác kịp thời. Đó là những hiện tượng không những đáng phê phán mà phải coi đó là thiếu trách nhiệm. Và nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng cũng đồng thời là một yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

    a) Nghĩa vụ báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

    Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến dấu hiệu tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp (Điều 38).

    b) Nghĩa vụ xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

    Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo cho người báo cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày; trường hợp cần thiết thì quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo (Điều 38).

    Trong trường hợp, cán bộ, công chức không thực hiện nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, luật quy định rõ trách nhiệm như sau:

    Cán bộ, công chức, viên chức biết được hành vi tham nhũng mà không báo cáo, người nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (Điều 39).

    3.1.4. Quy định về tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức

    Việc tặng quà và nhận quà tặng vốn là một phong tục, tập quán bình thường của người Á Đông nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Nó thể hiện tình cảm hay sự biết ơn trong các quan hệ xã hội. Nhưng tập quán tốt đẹp này lại bị lợi dụng để thực hiện hành vi đưa - nhận hối lộ. Phân biệt được giữa tặng quà và hối lộ là việc rất khó khăn và hối lộ thường được che đậy dưới hình thức quà tặng nên rất khó phát hiện và xử lý.

    Điều 40 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định một số nguyên tắc chung nhất để ngăn ngừa việc lợi dụng tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ:

    “1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

    2. Cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;

    3. Nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi;

    4. Chính phủ quy định chi tiết việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức”.

    3. 1.5. Về thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

    Trên cơ sở các quy tắc ứng xử chung do luật Phòng, chống tham nhũng và một số văn bản có liên quan đặt ra, các cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng cho ngành, cơ quan mình. Điều 41 quy định thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức như sau:

    “1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong cơ quan, ngành, lĩnh vực do mình quản lý;

    2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy tắc ứng xử của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và cán bộ, công chức, viên chức khác trong cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát;

    3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức này”.

    3.2. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp (Điều 42)

    Việc ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp cũng là một công cụ rất hữu hiệu để đảm bảo việc hành nghề đúng đắn. Hiện tại, đã có một số quy định về đạo đức nghề nghiệp được ban hành ở một số ngành, nghề nhất định, ví dụ, các quy định về y đức của ngành y tế. Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định những nội dung cơ bản và chung nhất về quy tắc nghề nghiệp.

    3.2. 1. Khái niệm quy tắc đạo đức nghề nghiệp

    Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề (khoản 1 Điều 42).

    3.2.2. Cách thức ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp

    Tổ chức xã hội - nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 42).

    3.3. Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Điều 43)

    Đây là một biện pháp trong phòng, chống tham nhũng mà nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng có hiệu quả. Điều 43 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi được phân công quản lý cán bộ có trách nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại một số vị trí công tác quản lý liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp nhằm chủ động ngăn ngừa tham nhũng.

    Vấn đề cần lưu ý ở đây là phải phân biệt giữa việc chuyển đổi vị trí công tác và luân chuyển cán bộ. Luân chuyển cán bộ là nhằm đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo để họ có điều kiện nâng cao trình độ hiểu biết và đủ năng lực thực tiễn đáp ứng được yêu cầu của người lãnh đạo quản lý. Chuyển đổi vị trí công tác là nhằm tránh hiện tượng cán bộ, công chức công tác lâu ở một vị trí sẽ tìm cách móc nối, cấu kết với những người có liên quan hình thành “ê-kíp”, “đường dây” tham nhũng. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải bảo đảm tính ổn định và chuyên môn của hoạt động công quyền và phải đặt trên những nguyên tắc nhất định chứ không thể chuyển đổi một cách tùy tiện. Việc chuyển đổi đơn giản là vị trí công việc chứ không phải thay đổi tính chất công việc mà cán bộ, công chức đó đang thực hiện và phải phù hợp với chuyên môn, trình độ nghiệp vụ của người được chuyển đổi. Ví dụ, một nhân viên thu thuế nông nghiệp có thể chuyển sang thu thuế công thương nghiệp; một nhân viên có trách nhiệm theo dõi thu thuế của địa bàn A có thể chuyển sang theo dõi địa bàn B; một cảnh sát khu vực này có thể sang làm cảnh sát khu vực khác... Vì vậy, Luật quy định: việc chuyển đổi vị trí công tác chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ quản lý. Việc luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ quản lý thực hiện theo quy định về luân chuyển cán bộ.

    Không phải mọi vị trí công tác đều cần chuyển đổi mà chỉ có những vị trí công tác có liên quan thường xuyên đến việc quản lý và sử dụng tiền, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc và trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp thì mới cần chuyển đổi và Chính phủ sẽ xác định các vị trí công tác cần chuyển đổi. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải theo kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị.

    4. Minh bạch tài sản, thu nhập (Mục 4)

    Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức luôn là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu nhất. Pháp lệnh Chống tham nhũng đã có quy định về kê khai tài sản cán bộ, công chức. Thực tế từ đó đến nay việc kê khai vẫn được tiến hành nhưng còn mang tính hình thức, ít có tác dụng. Luật Phòng, chống tham nhũng bổ sung nhiều điểm mới so với quy định hiện hành:

    Một là, Luật không chỉ yêu cầu kê khai tài sản của cá nhân cán bộ, công chức mà kê khai tài sản của cả vợ và con chưa thành niên để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản tham nhũng;

    Hai là, Luật có đề cập đến việc xác minh tài sản trong những trường hợp nhất định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    Ba là, Luật quy định về việc công khai bản kết luận về minh bạch trong kê khai tài sản.

    Với tinh thần đổi mới như trên, nên khác với các văn bản trước kia chỉ quy định về kê khai tài sản cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành đặt ra mục tiêu là tiến tới minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

    4.1. Nghĩa vụ kê khai tài sản (Điều 44)

    4.1.1. Đối tượng phải kê khai tài sản

    Khoản 1 Điều 44 quy định những đối tượng phải kê khai tài sản gồm:

    - Cán bộ từ Phó Trưởng phòng của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị;

    - Một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn; người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân;

    - Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Như vậy, có thể phân biệt người có nghĩa vụ kê khai tài sản thành hai loại:

    Thứ nhất, một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Luật không quy định toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải kê khai tài sản mà chỉ cán bộ từ Phó Trưởng phòng cấp huyện và tương đương trở lên, một số chức danh ở cơ sở và người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản nhà nước và tiếp xúc trực tiếp và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Việc chỉ quy định một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức phải kê khai tài sản nhằm đảm bảo việc quản lý kê khai tài sản được hiệu quả, phù hợp với khả năng thực tế và tập trung được vào những bộ phận được coi là có nhiều cơ hội phát sinh tham nhũng.

    Thứ hai, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Những người này có thể là cán bộ, công chức hoặc không và được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

    Chính phủ sẽ quy định cụ thể những người phải kê khai tài sản.

    4.1.2. Phạm vi, trách nhiệm kê khai tài sản

    Theo khoản 2 Điều 44: “Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.

    Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai”.

    Có hai nội dung mà người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai là: tài sản và mọi biến động về tài sản. Đối tượng được Nhà nước tập trung kiểm soát chính là biến động tài sản của người kê khai. Bởi vì, qua nắm bắt số biến động tăng và so sánh với thu nhập tiềm năng của người kê khai, Nhà nước có thể sớm phát hiện những trường hợp có sự chênh lệch quá lớn giữa tài sản gia tăng và thu nhập hợp pháp, hợp lý mà người kê khai có thể có được.

    Người có nghĩa vụ kê khai ngoài việc kê khai tài sản của bản thân còn phải kê khai tài sản của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Quy định này vừa nhằm ngăn ngừa người có nghĩa vụ kê khai nhờ người khác đứng tên tài sản của mình vì mục đích che giấu, tẩu tán tài sản, vừa đảm bảo người kê khai có thể kê khai chính xác. Đồng thời không xâm phạm các quyền cơ bản của công dân liên quan đến tài sản.

    4.2. Các loại tài sản phải kê khai (Điều 45)

    Điều 45 quy định các loại tài sản phải kê khai bao gồm:

    - Nhà, quyền sử dụng đất;

    - Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên;

    - Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

    - Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật.

    Có thể nói phạm vi tài sản phải kê khai là khá đầy đủ. Trong các loại tài sản phải kê khai trên, tài sản, tài khoản ở nước ngoài là một nội dung kê khai quan trọng. Quy định này nhằm ngăn chặn tẩu tán tài sản tham nhũng bằng cách đưa ra nước ngoài để tránh sự phát hiện xử lý. Ngoài ra, với việc quy định thu nhập phải chịu thuế cũng phải được kê khai, cơ quan quản lý kê khai tài sản sẽ phải phối hợp rất chặt chẽ với cơ quan thuế để kiểm soát và kịp thời phát hiện sai phạm.

    4.3. Thủ tục kê khai tài sản

    Điều 46 quy định về thủ tục kê khai tài sản gồm các nội dung sau:

    - Việc kê khai tài sản được thực hiện hàng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai làm việc và được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12;

    - Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó;

    - Bản kê khai tài sản được nộp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

    Việc kê khai mọi biến động về tài sản là nghĩa vụ bắt buộc nên khi tiến hành kê khai, người có nghĩa vụ kê khai phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó.

    Chủ thể quản lý bản kê khai tài sản là cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản. Cần phải phân biệt rõ hai loại chủ thể là: cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản và cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản (hay còn gọi là cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản trực tiếp công tác, làm việc). Chủ thể có thẩm quyền quản lý là chủ thể được đề cập đến dưới góc độ tổ chức cán bộ, còn chủ thể quản lý trực tiếp là dưới góc độ nơi công tác.

    4.4. Xác minh tài sản và thủ tục xác minh tài sản

    4.4.1. Xác minh tài sản (Điều 47)

    a) Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xác minh tài sản là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

    b) Các trường hợp xác minh tài sản:

    - Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết;

    - Theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    - Có hành vi tham nhũng.

    Việc xác minh tài sản có vai trò rất quan trọng không chỉ trong công tác phòng, chống tham nhũng mà cả trong công tác cán bộ. Đối với việc bầu cử, bổ nhiệm, xác minh tài sản có tác động quyết định ngay tại thời điểm bầu cử, bổ nhiệm và cũng sẽ là cơ sở để kiểm soát biến động tài sản của cán bộ, công chức kể từ thời điểm được bầu hoặc bổ nhiệm. Còn đối với việc cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật, việc xác minh tài sản là cần thiết để xem xét kỹ lưỡng mức độ trách nhiệm của người bị cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật và để cân nhắc xem người đó có liên quan tới hành vi tham nhũng hay không.

    4.4.2. Thủ tục xác minh tài sản

    Trình tự, thủ tục tiến hành xác minh tài sản và trách nhiệm của các bên liên quan trong tiến trình xác minh tài sản được quy định tại Điều 48 Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

    - Trước khi ra quyết định xác minh tài sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai giải trình rõ việc kê khai. Việc giải trình phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình;

    - Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định xác minh trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát sinh các trường hợp cần xác minh tài sản;

    - Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc xác minh khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    - Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản tiến hành thẩm tra, xác minh và phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản;

    - Thủ tục xác minh tài sản của người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 48. Thời hạn xác minh phải đáp ứng yêu cầu về thời gian bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Quy định về việc: trước khi quyết định xác minh tài sản được ban hành, người có nghĩa vụ kê khai tài sản được yêu cầu giải trình về việc kê khai trong thời hạn 5 ngày, là cơ hội để người có nghĩa vụ kê khai giải thích về những nội dung chưa rõ ràng trong bản kê khai, bổ sung những nội dung chưa kê khai.

    Kết thúc thời hạn thẩm tra, xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản.

    4.5. Kê luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản

    4.5. 1. Khái niệm (Điều 49)

    Đối tượng của việc xác minh tài sản quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng không phải là bản thân tài sản mà là tính trung thực của việc kê khai đó. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh để xác định người có nghĩa vụ kê khai có kê khai trung thực, ngay tình hay không. Khoản 1 Điều 49 quy định: “Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản”.

    Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản phải được gửi cho cơ quan, tổ chức yêu cầu xác minh và người có tài sản được xác minh.

    Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải chịu trách nhiệm về tính khách quan, chính xác và nội dung kết luận của mình.

    4.5.2. Công khai kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản (Điều 50)

    Đây là một nội dung mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng. Pháp lệnh không quy định về việc công khai nội dung liên quan đến kê khai tài sản. Nội dung công khai liên quan đến vấn đề kê khai tài sản quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng là sự minh bạch trong kê khai tài sản. Căn cứ để công khai bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là khi có yêu cầu và theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai tại các địa điểm sau đây:

    - Trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản làm việc khi người đó được bổ nhiệm, bầu, phê chuẩn;

    - Tại hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    - Tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người được đề nghị để Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc Đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội bầu, phê chuẩn.

    Đối với trường hợp người được xác minh tài sản là người bị khởi tố về hành vi tham nhũng, kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản của người này phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

    4.6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản

    Điều 51 quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý và lưu giữ bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai do mình quản lý; tổ chức việc xác minh theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản và công khai kết luận đó theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong các trường hợp quy định tại Điều 50 Luật Phòng, chống tham nhũng.

    4.7. Xử lý người kê khai tài sản không trung thực

    Một trong những điểm mới đáng chú ý nhất của cơ chế minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng đó là quy định về xử lý người kê khai tài sản không trung thực. Việc đặt ra chế tài là rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để xử lý người kê khai không trung thực, đồng thời, răn đe những người có ý định giấu giếm tài sản, kê khai không trung thực. Điều 52 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    - Người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc;

    - Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử; người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ đã dự kiến.

    Có thể thấy chế tài Luật đưa ra là rất nghiêm khắc. Với nguy cơ bị loại khỏi danh sách ứng cử hoặc không được bổ nhiệm, phê chuẩn nếu kê khai không trung thực, những người có ý định kê khai không trung thực sẽ phải rất cân nhắc khi thực hiện ý định của mình. Đồng thời, bản thân việc công khai quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc cũng là một chế tài có sức răn đe rất lớn.

    4.8. Kiểm soát thu nhập

    Điều 53 quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Hiện tại, cơ chế đăng ký tài sản, kiểm soát thu nhập nói chung của Việt Nam còn hết sức hạn chế và cần được cải thiện từng bước. Nhà nước sẽ tiếp tục nghiên cứu để ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ nhằm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn một cách hữu hiệu.

    5. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng (Mục 5)

    Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu đóng vai trò trọng tâm, then chốt. Việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đi đôi với tăng cường hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng rất chú trọng quy định về vấn đề này và đã đưa ra nhiều nội dung quan trọng, tương đối đồng bộ về trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, trong đó, có vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.

    5.1. Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 54)

    5.1.1. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được hiểu trong hai trường hợp như sau:

    Thứ nhất, người đứng đầu với tư cách là người lãnh đạo, quản lý cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Do đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

    Thứ hai, người đứng đầu với tư cách là người trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ.

    Về trường hợp liên đới chịu trách nhiệm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách.

    5. 1.2. Đối với trách nhiệm của cấp phó người đứng đầu

    Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

    Đây là quy định rất quan trọng, bởi vì trên thực tế, việc làm rõ trách nhiệm của cấp trưởng và cấp phó không phải là điều dễ dàng. Hiện nay, thực hiện theo chủ trương phân cấp, nhiều lĩnh vực công việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được giao cho cấp phó phụ trách. Phân cấp đi đôi với trách nhiệm, vì vậy, cấp phó phải chịu trách nhiệm pháp lý trước tiên và trực tiếp đối với việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

    5.1.3. Trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trực thuộc

    Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý.

    Cũng tương tự như đối với trách nhiệm của cấp phó, hiện nay, tuy là đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức nhưng người đứng đầu đơn vị đã được giao quyền hạn và nhiệm vụ tương đối chủ động. Việc được tăng cường quyền hạn phải đi đôi với đề cao trách nhiệm. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị là cần thiết và phù hợp với xu thế đẩy mạnh phân cấp hiện nay.

    Theo “Sổ tay giới thiệu luật phòng, chống tham nhũng”. - Nhà xuất bản Tư pháp

    Số lượt đọc:  748  -  Cập nhật lần cuối:  24/09/2007 08:34:51 AM
    Tin mới
    Có nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật!?
    Hàng loạt phi vụ mờ ám ở Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt
    Nghệ An: hơn 6 tỉ đồng đang "trơ gan cùng tuế nguyệt"
    Xử lý kết luận sau thanh tra dự án đường vành đai 3 Hà Nội, đoạn Mai Dịch - Pháp Vân
    Thanh tra Chính phủ đang hoàn tất kết luận 7 cuộc thanh tra
    Bài 2: khi doanh nghiệp điện độc quyền
    Độc quyền - Có quyền áp đặt!?
    Bài viết mới nhất
    Tham nhũng - con số
    Đơn thư
    Sai phạm tại Hải quan HN và TP.HCM
    Thanh tra Chính phủ tiếp nhận 6.778 đơn
    Chỉ số nhận thức tham nhũng Việt Nam
    Quốc hội Nhật Bản đã bầu ông Yasuo Fukuda làm Tân Thủ Tướng
    Xin lỗi
     Trang chủ | Thông tin bản quyền | Sơ đồ web | Đường dây nóng