Đang tải dữ liệu...

 

 Trang chủ | Giới thiệu chung | Văn bản pháp luật | Đường dây nóng | Diễn đàn Thanh tra | Liên hệ | E-Mail 
Bài viết
Tìm hiểu Luật phòng, chống tham nhũng - Phần 1
   
09:55' PM - Thứ tư, 22/08/2007
Ảnh minh hoạ
Bài liên quan:
  • Phần 3: Phát hiện và xử lý tham nhũng []
  • Nhằm góp phần nâng cao nhận thức trong xã hội về Luật Phòng, chống tham nhũng; tạo chuyển biến tích cực trong công tác phòng, chống, tiến tới đẩy lùi nguy cơ này, kể từ số báo hôm nay, Báo Cần Thơ trân trọng giới thiệu đến bạn đọc nội dung cuốn sách “Sổ tay giới thiệu luật phòng, chống tham nhũng”. Sách do Viện Khoa học Thanh tra phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành.

    I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (CHƯƠNG I)

    Chương I gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; các hành vi tham nhũng, nguyên tắc xử lý tham nhũng: quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trách nhiệm của cơ quan báo chí trong phòng, chống tham nhũng; trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và của cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng; và các hành vi bị nghiêm cấm.

    1- Phạm vi điều chỉnh

    Điều 1 khoản 1 quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

    “Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng”.

    Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng gồm các nội dung chủ yếu là:

    - Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng;

    - Việc phát hiện hành vi tham nhũng;

    - Việc xử lý người có hành vi tham nhũng;

    - Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

    Quy định này thể hiện chủ trương đẩy mạnh phòng ngừa tham nhũng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng giai đoạn hiện nay của Nhà nước ta, coi đó là một giải pháp có tính chiến lược, căn bản, lâu dài để chủ động ngăn chặn ngay từ đầu nguy cơ tham nhũng, từng bước hạn chế, đẩy lùi nạn tham nhũng. Đây là một điểm mới trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng, là một bước đột phá trong tư duy lập pháp về phòng, chống tham nhũng nói riêng và quản lý nhà nước nói chung. Nếu trước kia, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu theo tinh thần của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 là phát hiện và xử lý tham nhũng thì hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cho thấy, bên cạnh việc tăng cường phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, công tác phòng ngừa tham nhũng phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, then chốt.

    Việc đề cao cơ chế phòng ngừa tham nhũng nhằm: (i) góp phần hạn chế những khiếm khuyết, hàn gắn những lỗ hổng trong hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế; (ii) tạo tiền đề cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phát hiện, xử lý tham nhũng khắc phục hậu quả hành vi tham nhũng; (iii) tăng cường vai trò, sự tham gia tích cực của nhân dân, các tổ chức đoàn thể, báo chí trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước nói chung và công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng; (iv) góp phần xây dựng một nền quản lý chuyên nghiệp, liêm chính và một xã hội trong sạch, phi tham nhũng.

    Điều 1 khoản 2 về khái niệm tham nhũng quy định:

    “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.

    Như vậy, tham nhũng được mô tả dưới dạng hành vi, bao gồm ba yếu tố.

    Thứ nhất, hành vi này được thực hiện bởi một đối tượng đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn; thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao và thứ ba, hành vi này thực hiện với mục đích vì vụ lợi. Yếu tố vụ lợi được hiểu không chỉ là vụ lợi cho cá nhân mình mà còn có thể là vụ lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình hoặc tổ chức, cá nhân khác. Lợi ích được hướng tới ở đây không chỉ là lợi ích về vật chất mà có thể là cả lợi ích về tinh thần. Lợi ích đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Được coi là hành vi tham nhũng nếu có đủ cả ba yếu tố, nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì tuy không là tham nhũng, nhưng có thể là một hành vi vi phạm pháp luật khác (chẳng hạn: hành vi cố ý làm trái, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

    Về những đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn, khoản 3 Điều 1 quy định:

    “a) Cán bộ, công chức, viên chức;

    b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

    c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

    d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.

    Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn.

    Nhóm thứ nhất nêu tại điểm a là cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung các năm 2000, 2003). Đây là nhóm đối tượng chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong số người có chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tượng thường nắm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi tham nhũng nên cần được thể chế hóa và giám sát chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.

    Nhóm thứ hai gồm những người có chức vụ, quyền hạn nêu tại điểm b là nhóm đối tượng có địa vị pháp lý tương đối đặc thù, thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân và được quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và Luật Công an nhân dân.

    Nhóm thứ ba nêu tại điểm c có thể được chia thành hai loại: thứ nhất, những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, theo đó, doanh nghiệp của Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn nhà nước; thứ hai, cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác.

    Nhóm thứ tư là những người nêu tại điểm d cũng đã được quy định là người có chức vụ, quyền hạn tại Phần các tội phạm về chức vụ của Bộ luật Hình sự. Theo đó, bên cạnh đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước, những người tuy không phải là cán bộ, công chức nhưng được giao nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó cũng được coi là người có chức vụ, quyền hạn và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng.

    2- Giải thích từ ngữ

    Tham nhũng là vấn đề không mới nhưng lại khá phức tạp, có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau, vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng dành một điều để giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong Luật nhằm thống nhất nhận thức và làm cơ sở cho việc tìm hiểu và áp dụng đúng tinh thần của toàn bộ đạo luật.

    “Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng”. Như vậy, tài sản tham nhũng có thể được hiểu là tài sản mà người thực hiện hành vi tham nhũng trực tiếp có được thông qua việc thực hiện hành vi tham nhũng đó (chẳng hạn: một khoản tiền có được do hành vi tham ô hay nhận hối lộ) hoặc gián tiếp (chẳng hạn: một ngôi nhà, một chiếc xe ô tô được mua bằng tiền nhận hối lộ,...). Tóm lại, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng thì bị coi là tài sản tham nhũng. Việc xác định tài sản tham nhũng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác xử lý tham nhũng.

    “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định”. Có ba nội dung cần lưu ý trong thuật ngữ này. Một là, công khai có thể bằng hai hình thức: công bố hoặc cung cấp thông tin. Hai là, thông tin đó phải là thông tin chính thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố hoặc cung cấp. Ba là, đối tượng mà thông tin đề cập tới là văn bản, hoạt động hoặc nội dung nhất định.

    Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chỉ có thể thực hiện quyền hạn của mình trên cơ sở những thông tin chính thức. Chính vì tính chất quan trọng như vậy, để tránh sự lộn xộn trong việc đưa tin và xử lý thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan nhà nước mà hiện nay, Chính phủ đã có người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ và cũng đã yêu cầu các cơ quan, trước hết là cán bộ, ngành trung ương phải có người phát ngôn chính thức của bộ, ngành mình.

    “Minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và khi cần thiết được xác minh, kết luận”. Đây là thuật ngữ mới mà trong Pháp lệnh Chống tham nhũng chưa có. Trước kia, Pháp lệnh Chống tham nhũng chỉ quy định việc kê khai tài sản, còn với tinh thần mới của đạo luật này thì ngoài việc kê khai tài sản, thu nhập, còn có quy định việc xác minh, kết luận về tính minh bạch của việc kê khai đó trong trường hợp cần thiết. Như vậy, minh bạch tài sản, thu nhập có mục đích bảo đảm tính chất rõ ràng, rành mạch đối với tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trước Nhà nước và khi xã hội đòi hỏi và là một biện pháp hữu hiệu, quan trọng trong cơ chế phòng ngừa tham nhũng.

    “Nhũng nhiễu là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. Thực tế cho thấy hành vi nhũng nhiễu, cố tình gây khó khăn, phiền hà nhằm vòi vĩnh, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức khi giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp đang trở thành một biểu hiện tham nhũng tương đối phổ biến, gây bất bình, nhức nhối trong nhân dân. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải quy định hành vi này trong Luật Phòng, chống tham nhũng để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý. Do dó, Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi là một hành vi tham nhũng. Vì vậy, việc giải thích thuật ngữ “nhũng nhiễu” là rất quan trọng, là tiền đề để giải thích và áp dụng quy định về hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi.

    “Vu lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”. Đây là một thuật ngữ không mới nhưng cần được giải thích và có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn hiện nay. Pháp lệnh Chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chưa thể hiện rõ điều này. Khái niệm vụ lợi mới chỉ dừng lại ở những lợi ích vật chất cụ thể. Đây là một hạn chế rất lớn, trên thực tế hành vi tham nhũng hiện nay diễn ra rất tinh vi với những lợi ích rất đa dạng mà người tham nhũng hướng tới, thậm chí trong một số trường hợp khó xác định lợi ích đó là vật chất hay tinh thần. Việc chứng minh yếu tố vụ lợi để từ đó xác định hành vi của người vi phạm luôn là vấn đề khó khăn trong các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Vì vậy, việc giải thích rõ khái niệm vụ lợi như trên là điều cần thiết.

    “Cơ quan, tổ chức, đơn vị bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước”. Hiện nay, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa trong nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội cho nên rất nhiều tổ chức hình thành đáp ứng đầy đủ các yếu tố là một chủ thể pháp lý độc lập (như các pháp nhân kinh tế, các hội nghề nghiệp, các câu lạc bộ...). Luật Phòng, chống tham nhũng chủ yếu hướng vào việc phòng, chống tham nhũng trong khu vực nhà nước cho nên những quy định của đạo luật này chủ yếu áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà nước. Vì vậy, Luật giải thích khái niệm này để giới hạn phạm vi đối tượng áp dụng chủ yếu là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách và tài sản của Nhà nước.

    3- Các hành vi tham nhũng

    Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các hành vi tham nhũng bao gồm:

    “1. Tham ô tài sản.

    2. Nhận hối lộ.

    3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

    4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

    5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

    6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

    7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

    8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

    9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

    10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

    11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

    12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”.

    Như vậy, so với những hành vi tham nhũng tại Pháp lệnh Chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự thì Luật Phòng, chống tham nhũng có bổ sung năm hành vi tham nhũng mới. Đây là những hành vi xuất hiện ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây. Việc quy định thêm năm loại hành vi mới này là cần thiết và là cơ sở pháp lý để đấu tranh với những biểu hiện ngày càng phức tạp của tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới được xác định là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự, (các hành vi được quy định từ khoản 1 đến khoản 7 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng) còn những hành vi khác (từ khoản 8 đến khoản 12 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng) được xác định là hành vi tham nhũng nhưng chưa cấu thành tội phạm thì được xử lý bằng biện pháp kỷ luật.

    - Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”. Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Khác với trước kia, tham nhũng thường là những hiện tượng nhỏ lẻ, được thực hiện bởi một hoặc một vài cá nhân, thì hiện nay, tham nhũng đã trở nên tinh vi, phức tạp hơn và nhiều khi mang tính tập thể, có tổ chức. Lợi ích mà hành vi tham nhũng nhằm đạt tới nhiều khi không trực tiếp mà “vòng vèo”. Do vẫn còn tồn tại cơ chế “xin - cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được các lợi ích cá nhân. Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Nhưng hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm) vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng.

    - Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi”. Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của Nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ô tô và các tài sản khác để lấy tiền chia nhau, nhiều khi là một số lượng rất lớn và tình trạng này có ở hầu hết các cấp, từ Trung ương đến địa phương và cần phải ngăn chặn kịp thời.

    - Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”. Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô tả trong phần giải thích từ ngữ. Cần nhấn mạnh thêm hành vi này rất phổ biến trong hoạt động của cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp. Một số cán bộ, công chức không thực hiện trách nhiệm với thái độ công tâm và tinh thần phục vụ mà ngược lại, thường tìm cách lợi dụng những sơ hở hoặc không rõ ràng của các thủ tục, thậm chí tự ý đặt ra các điều kiện gây thêm khó khăn cho công dân và doanh nghiệp để buộc công dân và doanh nghiệp phải quà cáp, biếu xén cho mình. Thực chất của hành vi này là sự ép buộc đưa hối lộ được che đậy dưới hình thức tinh vi, rất khó có căn cứ để xử lý. Cũng có thể coi hành vi nhũng nhiễu là hành vi “đòi hối lộ” một cách gián tiếp hoặc ở mức độ chưa thật nghiêm trọng và có thể dùng biện pháp xử lý hành chính.

    - Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Không ít hành vi tham nhũng được che chắn, thậm chí là đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Việc bao che cho người có hành vi tham nhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng nhiều khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền,...

    Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi”. Đây là hành vi được thực hiện dưới dạng không hành động. Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn đã không làm một việc mà pháp luật buộc phải làm, chủ yếu là không ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, không thực hiện các nghĩa vụ về bảo đảm an toàn, an ninh hay bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức để tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật. Và đổi lại, với việc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người có chức vụ, quyền hạn sẽ được trao một lợi ích nhất định nào đó. Đây là hiện tượng hết sức nguy hại, xuất hiện ngày càng nhiều và cần phải đấu tranh mạnh mẽ.

    4- Nguyên tắc xử lý tham nhũng

    Các nguyên tắc cơ bản trong xử lý tham nhũng được quy định tại Điều 4 Luật Phòng, chống tham nhũng:

    “1. Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

    2. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    3. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

    4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    5. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.

    6. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện”.Các nguyên tắc nêu trên thể hiện một thái độ nghiêm khắc và công bằng trong việc xử lý tham nhũng. Các nguyên tắc xử lý tham nhũng trong Luật được quy định toàn diện, nghiêm khắc hơn so với các nguyên tắc xử lý trong Pháp lệnh trước đây. Theo đó, người có hành vi tham nhũng có thể được giảm nhẹ chứ không được miễn xử lý hoàn toàn, nguyên tắc này nhằm loại trừ việc các cơ quan nhà nước “xuê xoa”, không xử lý đối với người có hành vi tham nhũng, vốn đang là một hiện tượng tương đối phổ biến, gây bất bình trong dư luận hiện nay. Ngoài ra, nguyên tắc công khai hóa việc xử lý kỷ luật đối với người có hành vi tham nhũng cũng là một sự bổ sung quan trọng và cần thiết nhằm góp phần nâng cao nhận thức của xã hội đối với tham nhũng và răn đe đối với những người có ý định vi phạm. Quy định về việc xử lý người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác cũng là để ngăn chặn tình trạng một số kẻ lợi dụng lúc còn đương chức tranh thủ đục khoét, vơ vét sau đó “hạ cánh an toàn” trước khi bị phát hiện.

    5- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong phòng, chống tham nhũng

    Đấu tranh chống tham nhũng là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và toàn thể xã hội. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân tại Chương I. Nội dung cụ thể về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng được quy định tại Chương VI.

    5.1. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn

    Điều 5 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm chung trong phòng, chống tham nhũng của các chủ thể là: (i) cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; (iii) người có chức vụ, quyền hạn.Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

    - Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

    - Tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác về hành vi tham nhũng;

    - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng;

    - Chủ động phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

    - Chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng;

    - Gương mẫu, liêm khiết; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;

    - Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.Người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm:

    - Thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng quy định của pháp luật;

    - Gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

    - Kê khai tài sản theo quy định của Luật này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của việc kê khai đó.

    Đây là những trách nhiệm chung, quan trọng nhất mà mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng phải thực hiện. Có thể thấy rất rõ, Luật Phòng, chống tham nhũng đã phân định trách nhiệm phù hợp với đặc trưng của từng chủ thể. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị được gắn chặt chẽ với trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, phòng ngừa tham nhũng, xử lý thông tin về hành vi tham nhũng và phối hợp trong phòng, chống tham nhũng. Luật đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị ở khía cạnh chủ động chấp hành pháp luật, trong đó, đáng chú ý là trách nhiệm định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và cả ở khía cạnh bị động, tức là chịu trách nhiệm thích đáng khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Người có chức vụ, quyền hạn bên cạnh việc thực hiện tốt pháp luật, nhiệm vụ, công vụ còn có một trách nhiệm quan trọng đó là kê khai tài sản một cách chính xác, trung thực theo các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng.

    5.2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng

    Công dân có vai trò rất to lớn và quan trọng trong đấu tranh chống tham nhũng. Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định chung về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng. Những nội dung cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân được chi tiết hóa tại Chương II với quy định về công khai, minh bạch và quyền tiếp cận thông tin, tại Chương III với quy định về tố cáo và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng và tại Chương VI với quy định về trách nhiệm công dân, Ban Thanh tra nhân dân.

    Điều 6 quy định hai nội dung chung nhất về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng là quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng và nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

    5.3. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan

    Luật Phòng, chống tham nhũng đặc biệt chú trọng thể chế hóa cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng và giữa các cơ quan chức năng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan. Điều 7 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    “Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với nhau và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử vụ việc tham nhũng.Cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng”.

    Những nội dung cụ thể của cơ chế phối hợp trong phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án được quy định chi tiết tại Chương V Luật Phòng, chống tham nhũng.

    5.4. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phòng, chống tham nhũng

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, hướng dẫn nhân dân và toàn thể xã hội tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Ghi nhận vai trò này của Mặt trận, Luật Phòng, chống tham nhũng đã dành Điều 8 và Điều 85 quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Theo Điều 8, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có ba trách nhiệm chung là: (i) động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phòng, chống tham nhũng; (ii) phát hiện, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham nhũng; (iii) giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng.

    5.5. Vai trò và trách nhiệm của báo chí

    Vai trò cũng như hiệu quả hoạt động của báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng những năm qua được đánh giá rất cao. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng dành một số điều quy định về vai trò, trách nhiệm của cơ quan báo chí là cần thiết. Theo tinh thần đó, Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:“Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng; khi đưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa”.

    Như vậy, Nhà nước khuyến khích và yêu cầu báo chí tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, việc tham gia phòng, chống tham nhũng thông qua việc đưa tin phải đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật, đảm bảo việc đưa tin chính xác, trung thực, khách quan. Không được lợi dụng quyền được đưa tin để thực hiện hành vi tiêu cực hoặc đưa tin không chính xác, không khách quan làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    6- Các hành vi bị nghiêm cấm

    Điều 10 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định ba loại hành vi bị nghiêm cấm: (i) 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 Luật này; (ii) hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; (iii) hành vi lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.

    Bên cạnh 12 hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng đương nhiên bị nghiêm cấm, thực tế còn phát sinh hai loại hành vi nữa tương đối phổ biến làm cản trở không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Thứ nhất, hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Thứ hai, hành vi lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác. Cả hai loại hành vi này đều bị Luật Phòng, chống tham nhũng nghiêm cấm.

    II- PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG (CHƯƠNG II)

    Chương II quy định về phòng ngừa tham nhũng gồm 6 mục 48 điều (từ Điều 11 đến Điều 58). Số lượng các điều chiếm hơn một nửa tổng số điều của đạo luật (48/92 điều). Điều đó phản ánh mức độ quan trọng của chế định phòng ngừa tham nhũng. Có thể nói, phòng ngừa tham nhũng là tinh thần chủ đạo của Luật Phòng, chống tham nhũng.

    Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy công tác phòng ngừa có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng. Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng cũng khuyến cáo các quốc gia thành viên phải hết sức lưu ý việc xây dựng và duy trì một hệ thống các chính sách phòng ngừa tham nhũng liên tục, toàn diện và hiệu quả. Có thể thấy rằng, các quy định về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng hiện hành của Việt Nam là tương đối đầy đủ. Chính vì vậy, trong đạo luật này, số lượng điều khoản và nội dung về phòng ngừa tham nhũng chiếm tỷ lệ rất lớn và đa số những điểm mới là về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

    Chương này quy định các nội dung chính sau:

    1- Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Mục 1)

    1.1. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

    Nội dung này gồm có 23 điều, từ Điều 11 đến Điều 33.

    Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là biện pháp quan trọng hàng đầu để ngăn ngừa tham nhũng. Công khai, minh bạch tạo điều kiện để người dân cũng như xã hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai, minh bạch hóa hoạt động các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, việc công khai, minh bạch cũng đòi hỏi cơ quan nhà nước thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật, làm cho các cán bộ, công chức có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Qua đó, mọi hành vi vi phạm, gây phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách với mục đích tư lợi có thể bị phát hiện và xử lý.

    - Về nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ” (khoản 1 Điều 11).

    - Về nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ” (khoản 2 Điều 11).

    Đây là một bước tiến lớn trong quá trình công khai hóa hoạt động của bộ máy nhà nước. Từ trước đến nay, chúng ta cũng đã có một số quy định hoạt động của các cơ quan nhà nước trong một số lĩnh vực phải công khai. Tuy nhiên, công khai mới chỉ dừng lại trong từng lĩnh vực hoặc một số hoạt động cụ thể. Tại Pháp lệnh Chống tham nhũng, vấn đề công khai hóa cũng được đặt ra nhằm phòng ngừa tham nhũng nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chủ yếu là thủ tục hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến giải quyết công việc của công dân, tổ chức, doanh nghiệp.

    Luật Phòng, chống tham nhũng đã đưa vấn đề công khai, minh bạch trở thành một nguyên tắc chung cho hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Như vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có thể không công khai những nội dung được coi là bí mật nhà nước và không được viện lý do nào khác để từ chối việc công khai hoạt động của mình nhằm tránh sự giám sát của người dân và xã hội.

    Ngoài việc đưa ra nguyên tắc và nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, một vấn đề đáng lưu ý là Luật đã có những quy định cụ thể để nguyên tắc này được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Đó là việc quy định hình thức công khai và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của tổ chức và cá nhân.Các hình thức công khai được quy định tại Điều 12 Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm:

    - Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

    - Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

    - Thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan;

    - Phát hành ấn phẩm;

    - Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

    - Đưa lên trang thông tin điện tử;

    - Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    Ngoài những trường hợp pháp luật có quy định về hình thức công khai, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai quy định nêu trên.

    Như vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện công khai qua các hình thức nêu trên, tức là có thể lựa chọn sử dụng một hoặc một số hình thức đó. Luật quy định cụ thể như vậy để ngăn chặn việc cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện công khai một cách hình thức, tùy tiện.

    Để bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của hai loại chủ thể, bao gồm: quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân.

    - Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 31 Luật Phòng, chống tham nhũng:

    “1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quy định của pháp luật.

    2. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu phải cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức yêu cầu biết và nêu rõ lý do”.Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức để bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch. Tuy nhiên, để tránh tình trạng lạm dụng, lợi dụng quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đồng thời, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy định này trên thực tế thì quyền yêu cầu cung cấp thông tin phải nằm trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật:Một là, các cơ quan, tổ chức hoặc báo chí được quyền yêu cầu cung cấp không phải bất kỳ thông tin nào, mà chỉ những thông tin cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hoặc liên quan đến cơ quan, tổ chức mình thì mới có quyền yêu cầu được cung cấp. Chẳng hạn, cơ quan nhà nước có thể yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước đó; tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các thành viên tổ chức đó; cơ quan báo chí có quyền yêu cầu cung cấp thông tin để phục vụ cho tác nghiệp báo chí,... Hai là, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu cung cấp thông tin chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của mình theo quy định của pháp luật.

    Luật ấn định thời hạn mà cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận được yêu cầu phải cung cấp thông tin. Theo đó, trừ trường hợp nội dung thông tin được yêu cầu đã công khai thì trong thời hạn mười ngày, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải cung cấp thông tin theo yêu cầu. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trong trường hợp “không cung cấp được” hoặc “chưa cung cấp được” thì cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu cung cấp thông tin phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    - Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân được quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

    “1. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

    2. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó.

    3. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, người được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu biết và nêu rõ lý do”.Có thể thấy rằng, quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương, cơ sở, tức là tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người yêu cầu làm việc hoặc tại địa phương mà người đó cư trú. Luật quy định như vậy bởi vì đây là nơi mà người dân có điều kiện giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan, tổ chức, chính quyền cũng như phần lớn các quyền và lợi ích của công dân được thực hiện tại địa phương, cơ sở nên cần tạo điều kiện cho họ có thông tin để giám sát, phát hiện, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp xử lý đối với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Nội dung về thời hạn cung cấp thông tin, việc từ chối cung cấp thông tin được quy định như đối với quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức.

    1.2. Công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực cụ thể

    Ngoài việc nêu nguyên tắc và quy định nội dung, hình thức bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói chung, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể về công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực mà thực tế cho thấy xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, gây thất thoát lớn về tiền, tài sản của Nhà nước cũng như tồn tại nhiều sự phiền hà, sách nhiễu, đòi hối lộ từ phía cơ quan nhà nước.

    1.2.1. Công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản (Điều 13)

    Mua sắm công và xây dựng cơ bản là các lĩnh vực sử dụng khối lượng rất lớn ngân sách, tiền, tài sản nhà nước và cần được đặc biệt quan tâm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cùng với việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Nhà nước cũng ban hành Luật Đấu thầu, trong đó quy định khá đầy đủ và chi tiết về trình tự, thủ tục, hoạt động đấu thầu. Đây là thuận lợi rất lớn để thực hiện quy định công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản.

    Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung cần thiết phải công khai để phòng ngừa những hành vi tham nhũng có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động mua sắm công và xây dựng cơ bản. Theo đó, về nguyên tắc, việc mua sắm công và xây dựng cơ bản phải được công khai theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp mua sắm công và xây dựng cơ bản mà pháp luật quy định phải đấu thầu thì nội dung công khai bao gồm:

    - Kế hoạch đấu thầu, mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển, mời thầu;

    - Danh mục nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, danh sách ngắn nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, kết quả lựa chọn nhà thầu;

    - Thông tin về cá nhân, tổ chức thuộc chủ dự án, bên mời thầu, nhà thầu, cơ quan quản lý hoặc đối tượng khác vi phạm pháp luật về đấu thầu; thông tin về nhà thầu bị cấm tham dự và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu;

    - Văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, hệ thống thông tin dữ liệu về đấu thầu;

    - Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu trên phạm vi toàn quốc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; báo cáo tổng kết công tác đấu thầu của bộ, ngành, địa phương và cơ sở;

    - Thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu.

    Trong số các nội dung kể trên, thông tin về đối tượng vi phạm pháp luật về đấu thầu, về nhà thầu bị cấm tham dự và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu là những nội dung công khai rất quan trọng. Việc công khai những thông tin này được cộng đồng quốc tế coi là một công cụ rất hữu hiệu nhằm chống gian lận, tiêu cực trong đấu thầu. Xét dưới một khía cạnh nào đó, những thông tin được công khai này có thể được coi là một bản “danh sách đen”. Việc nhà thầu bị nêu tên trong bản danh sách đen gần như đồng nghĩa với việc chấm dứt mọi cơ hội tham dự đấu thầu trong tương lai. Và nếu chủ dự án, bên mời thầu có ý định hoặc thực hiện việc cấu kết với nhà thầu đã bị cấm tham dự đấu thầu hoặc có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu để thực hiện hành vi tiêu cực, gian lận thì sẽ rất dễ dàng bị phát hiện. Vì vậy, có thể nói, việc công khai thông tin nói trên là công cụ rất tốt để ngăn chặn tiêu cực từ cả phía bên mời thầu và nhà thầu.

    Thực tế cho thấy khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng là một biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo công khai, minh bạch và công bằng, dân chủ trong đấu thầu. Ghi nhận thực tế này, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải công khai thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu làm cơ sở để các chủ thể tham gia đấu thầu thực hiện đúng đắn quyền khiếu nại, tố cáo của mình.

    1.2.2. Công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng (Điều 14)

    Đây là lĩnh vực xảy ra nhiều tham nhũng và gây bức xúc cho người dân. Trong quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch, một số cán bộ, công chức nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm những điều khuất tất vì những lợi ích có tính chất tư lợi. Vì vậy, hoạt động này cần phải được công khai để dân biết và phải lấy ý kiến nhân dân cũng như phải do Hội đồng nhân dân địa phương, người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định. Luật quy định cụ thể như sau:

    - Dự án quy hoạch đầu tư xây dựng phải được lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch;

    - Dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương phải được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định;

    - Dự án đầu tư xây dựng sau khi được quyết định, phê duyệt phải được công khai để nhân dân giám sát.

    1.2.3. Công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước (Điều 15)

    Từ nhiều năm nay, nhất là từ khi ban hành Luật Ngân sách nhà nước, các hoạt động ngân sách đã từng bước được công khai hóa với các mức độ khác nhau. Trên cơ sở một số nội dung có tính nguyên tắc về công khai tài chính, ngân sách tại Luật Ngân sách nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền đã tiếp tục ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm quy định cụ thể nội dung, trình tự, thủ tục và các vấn đề khác có liên quan đến công khai tài chính, ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, các văn bản nói trên mới chỉ là văn bản dưới luật và đề cập đến vấn đề công khai tài chính, ngân sách dưới góc độ pháp luật tài chính. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã “pháp điển hóa” những quy định về công khai tài chính, ngân sách hiện hành với các nội dung như sau:

    - Các cấp ngân sách, đơn vị dự toán ngân sách phải công khai chi tiết số liệu dự toán và quyết toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê chuẩn, kể cả khoản ngân sách bổ sung;

    - Đơn vị dự toán ngân sách có nguồn thu và các khoản chi từ các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải công khai mục đích huy động, kết quả huy động và hiệu quả việc sử dụng các nguồn huy động;

    - Tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai: số liệu dự toán, quyết toán; khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân (nếu có); cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ;

    - Dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước phải công khai: việc phân bổ vốn đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm cho các dự án; dự toán ngân sách của dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư được duyệt, mức vốn đầu tư của dự án được giao trong dự toán ngân sách năm; quyết toán vốn đầu tư của dự án hằng năm; quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

    - Quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây: quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ; kế hoạch tài chính hằng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền; kết quả hoạt động của quỹ; quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

    - Việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải công khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và nhân dân nơi trực tiếp thụ hưởng biết.

    Có thể thấy nội dung công khai tài chính, ngân sách trên bao gồm một phạm vi rất rộng về chủ thể có nghĩa vụ phải công khai và các loại thông tin phải công khai. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện việc công khai thông tin cũng như để cơ quan, tổ chức và người dân có thể tiếp cận và giám sát các hoạt động tài chính, ngân sách nhà nước.

    1.2.4. Công khai, minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân (Điều 16)

    Huy động sức dân luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Điều đặc biệt quan trọng là cần phải bảo đảm việc sử dụng các nguồn lực đó một cách có hiệu quả và bảo đảm mục đích tốt đẹp của nó. Thực tế đã không ít những khoản đóng góp của nhân dân bị hà lạm, xà xẻo. Vì vậy, những hoạt động này cần phải được công khai để nhân dân giám sát và Nhà nước thanh tra, kiểm tra mỗi khi có những biểu hiện không lành mạnh, minh bạch. Luật quy định cụ thể như sau:

    - Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình, lập quỹ trong phạm vi địa phương phải lấy ý kiến nhân dân và được Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định;

    - Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân quy định như trên phải được công khai để nhân dân giám sát và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật;

    - Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán;

    - Công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân phải công khai các nội dung sau đây:

    + Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán;

    + Dự toán cho từng công trình theo kế hoạch đầu tư được duyệt;

    + Nguồn vốn đầu tư cho từng công trình;

    + Kết quả đã huy động của từng đối tượng cụ thể, thời gian huy động;

    + Kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

    + Tiến độ thi công và kết quả nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình và quyết toán công trình;

    - Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân vì mục đích từ thiện, nhân đạo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 16 Luật Phòng, chống tham nhũng.

    Các quy định nói trên cùng với các quy định hiện hành về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định có liên quan tạo thành một khung pháp lý tương đối đầy đủ, cụ thể để đảm bảo công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân. Nội dung về công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng đóng góp của nhân dân vào mục đích từ thiện, nhân đạo là một bổ sung rất quan trọng. Bởi vì, trên thực tế, cùng với những tiêu cực trong việc huy động, sử dụng đóng góp của nhân dân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ, một số hành vi tiêu cực, gian lận, tham nhũng cũng đã phát sinh trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo do nhân dân đóng góp. Những hành vi tiêu cực này, kể cả khi thiệt hại vật chất không lớn cũng có thể gây ra những hậu quả khôn lường về mặt xã hội bởi điều đó đã đi ngược lại với thuần phong, mỹ tục của dân tộc ta. Vì vậy, pháp luật về chống tham nhũng cần phải có quy định làm cơ sở để đấu tranh trên thực tế.

    1.2.5. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng các khoản viện trợ (Điều 17)

    Cùng với tiến trình hội nhập, mở cửa, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp nhận một lượng lớn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hỗ trợ từ phía cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, cơ chế quản lý các khoản viện trợ, hỗ trợ hiện nay còn sơ hở, chưa thật sự chặt chẽ, có thể bị lợi dụng vì mục đích tư lợi. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định có tính nguyên tắc về công khai, minh bạch trong việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành và thực hiện các quy định cụ thể tiếp theo.

    Theo đó, việc quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo quy định về công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước. Đối với các khoản viện trợ phi chính phủ phải được công khai cho các đối tượng thụ hưởng biết.

    1.2.6. Công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp của Nhà nước và trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước

    a) Công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 18)

    Doanh nghiệp của Nhà nước được coi là khu vực phát sinh nhiều hành vi tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí một lượng lớn tài sản của Nhà nước. Vì vậy, công khai, minh bạch hóa trong hoạt động quản lý doanh nghiệp của Nhà nước là rất cần thiết để ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực này. Điều 18 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

    “Doanh nghiệp của Nhà nước có trách nhiệm công khai vốn và tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính và kết quả kiểm toán, việc trích, lập và sử dụng quỹ của doanh nghiệp, việc tuyển dụng lao động, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp và nội dung khác theo quy định của pháp luật”.

    b) Công khai, minh bạch trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 19)

    Cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để tăng cường sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như giảm thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Tuy nhiên, bản thân việc cổ phần hóa cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ tham nhũng và nếu không được dự liệu và ngăn chặn từ trước thì cổ phần hóa sẽ trở thành một cơ hội rất lớn để làm giàu phi pháp và nhanh chóng cho một số người có chức vụ, quyền hạn. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở Cộng hòa liên bang Nga và một số quốc gia Đông Âu đã cho thấy rất rõ điều đó. Những thủ đoạn tham nhũng, tiêu cực chính trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước là xác định giá trị doanh nghiệp rất thấp so với thực tế, cổ phần hóa khép kín hoặc bán cổ phần cho một số đối tượng trong phạm vi hẹp.

    Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải công khai, minh bạch hóa việc cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước, cụ thể là:

    - Việc cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước phải công khai, minh bạch; không được cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Doanh nghiệp được cổ phần hóa có trách nhiệm công khai thực trạng tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp;

    - Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa và việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp (nếu có).

    - Việc bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hóa phải thực hiện bằng phương thức bán đấu giá.

    Có thể nói, những nội dung cần thiết phải công khai trong khi cổ phần hóa đã được Luật Phòng, chống tham nhũng quy định, bao gồm: thực trạng tài chính của doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp (cả việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp nếu có). Bên cạnh đó, đấu giá cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hóa cũng là một phương thức rất tốt để đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng và dân chủ, tránh tiêu cực, tham nhũng.

    1.2.7. Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất, quản lý, sử dụng nhà ở

    a) Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất (Điều 21)

    Hiện nay, quản lý và sử dụng đất đai được xác định là một lĩnh vực “nóng”, nhiều tiêu cực, sai phạm từ phía cơ quan quản lý và cả ở phía đối tượng thụ hưởng quyền sử dụng đất. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ, toàn diện, bao gồm biện pháp về lập pháp, quản lý và thậm chí cả hình sự; biện pháp trước mắt, trung hạn và cả dài hạn. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung cơ bản nhất trong quản lý và sử dụng đất phải được công khai bao gồm:

    - Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm dân chủ và công khai;

    - Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch đó phải thông báo công khai cho nhân dân địa phương nơi được quy hoạch, điều chỉnh biết;

    - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, việc giải phóng mặt bằng, giá đền bù khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai;

    - Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp Giấp chứng nhận quyền sử dụng đất; quy hoạch chi tiết và việc phân lô đất ở, đối tượng được giao đất làm nhà ở phải được công khai.

    Những nội dung công khai trong quản lý và sử dụng đất được quy định chung, mang tính nguyên tắc và cần phải tiếp tục được quy định chi tiết hơn. Tuy nhiên, Luật cũng đã nêu ra được một số nội dung công khai hết sức cụ thể, ví du, giá đền bù khi thu hồi đất, đối tượng được giao đất làm nhà ở. Một số nội dung khác như việc giải phóng mặt bằng, việc cấp Giấp chứng nhận quyền sử dụng đất, việc phân lô đất ở cần phải được quy định cụ thể hơn nữa về nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành công khai để đảm bảo việc công khai được tiến hành trên thực tế.

    b) Công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nhà ở (Điều 22)

    Bên cạnh lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển rất nhanh của hoạt động xây dựng nhà ở, đặc biệt là việc xây dựng các khu đô thị mới, khu chung cư, khu tái định cư với số lượng nhà ở lớn, lĩnh vực quản lý và sử dụng nhà ở đã bắt đầu phát sinh những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Đây là lĩnh vực được nhận định là một lĩnh vực chứa đựng nhiều nguy cơ tham nhũng và nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực với thiệt hại lớn trong tương lai. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung chung nhất phải công khai trong việc quản lý và xây dựng nhà ở làm tiền đề xây dựng các văn bản tiếp theo về công khai, minh bạch trong lĩnh vực này, cụ thể là:

    - Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp Giấy phép xây dựng nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải được công khai;

    - Việc hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, đối tượng được hóa giá nhà ở và các khoản tiền phải nộp khi hóa giá nhà ở phải được công khai;

    - Việc bán nhà ở cho người tái định cư, người có thu nhập thấp và những đối tượng ưu tiên khác phải được công khai.

    Tuy nhiên, bởi vì đây là một lĩnh vực mới phát sinh nên những nội dung công khai cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung bên cạnh việc chi tiết hóa những nội dung đã quy định.

    1.2.8. Công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, thể dục, thể thao

    a) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục (Điều 23)

    Hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, được Nhà nước và toàn thể xã hội đặc biệt chú trọng đầu tư rất nhiều nguồn lực. Để đảm bảo các hoạt động giáo dục không bị lợi dụng phục vụ cho mục đích cá nhân, tư lợi và các khoản thu cho giáo dục được sử dụng đúng đắn, tránh việc bị lãng phí, thất thoát, tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung phải công khai trong lĩnh vực giáo dục như sau:

    - Việc tuyển sinh, thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ phải được công khai;

    - Cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, việc thu, quản lý, sử dụng học phí, lệ phí tuyển sinh, các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, các khoản hỗ trợ, đầu tư cho giáo dục và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

    b) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực y tế (Điều 24)

    Cũng như giáo dục, y tế là một lĩnh vực được Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm đầu tư. Thực tế đã có không ít những trường hợp tiêu cực, sai phạm, nhũng nhiễu xảy ra trong lĩnh vực này, gây ra những thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe và làm giảm lòng tin của nhân dân vào hệ thống y tế của nước ta. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung phải công khai trong lĩnh vực y tế như sau:

    - Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề y, dược tư nhân, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề cho các cơ sở hành nghề y, dược phải được công khai;

    - Cơ quan quản lý y tế, cơ sở khám, chữa bệnh có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc thu, quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, giá thuốc, các loại phí liên quan đến việc khám, chữa bệnh và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

    c) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực khoa học - công nghệ (Điều 25)

    Tình hình sử dụng ngân sách trong lĩnh vực khoa học - công nghệ còn chưa có hiệu quả, quá trình tuyển chọn, phân bổ ngân sách nghiên cứu cũng còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơ chế “xin - cho”, thậm chí có tình trạng chạy chọt kinh phí trong nghiên cứu khoa học. Hậu quả dẫn đến đề tài kém chất lượng, tính khả thi không cao, không được hoặc chậm áp dụng trong thực tiễn, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước. Chính vì vậy cần phải công khai hóa mạnh mẽ lĩnh vực hoạt động này để ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định một số khâu cần phải công khai, minh bạch, cụ thể như sau:

    - Việc xét, tuyển chọn, giao trực tiếp, tài trợ thực hiện nhiệm vụ khoa học - công nghệ và việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học - công nghệ phải được tiến hành công khai;

    - Cơ quan quản lý khoa học - công nghệ, đơn vị nghiên cứu khoa học - công nghệ phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản hỗ trợ, viện trợ, đầu tư, các khoản thu từ hoạt động khoa học - công nghệ.

    d) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực thể dục, thể thao (Điều 26)

    Hoạt động thể dục, thể thao là lĩnh vực mà chúng ta chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa. Ngoài các khoản ngân sách, các hoạt động này còn thu hút và huy động được rất nhiều kinh phí từ việc tài trợ và tổ chức thi đấu, biểu diễn. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải bảo đảm tính công khai để tránh tiêu cực, tham nhũng, cụ thể: “Cơ quan quản lý thể dục, thể thao, Ủy ban Ô-lim-pích Việt Nam, các liên đoàn thể thao, cơ sở thể dục, thể thao có trách nhiệm công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản thu từ hoạt động và dịch vụ thể dục, thể thao, khoản tài trợ, hỗ trợ đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho hoạt động thể dục, thể thao”.

    (Xem tiếp)

    Số lượt đọc:  335  -  Cập nhật lần cuối:  25/08/2007 11:19:50 AM
    Tin mới
    Vietnam Innovation Day 2009
    Có nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật!?
    Hàng loạt phi vụ mờ ám ở Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt
    Nghệ An: hơn 6 tỉ đồng đang "trơ gan cùng tuế nguyệt"
    Xử lý kết luận sau thanh tra dự án đường vành đai 3 Hà Nội, đoạn Mai Dịch - Pháp Vân
    Thanh tra Chính phủ đang hoàn tất kết luận 7 cuộc thanh tra
    Bài 2: khi doanh nghiệp điện độc quyền
    Bài viết mới nhất
    Tham nhũng - con số
    Đơn thư
    Sai phạm tại Hải quan HN và TP.HCM
    Thanh tra Chính phủ tiếp nhận 6.778 đơn
    Chỉ số nhận thức tham nhũng Việt Nam
    Quốc hội Nhật Bản đã bầu ông Yasuo Fukuda làm Tân Thủ Tướng
    Xin lỗi
     Trang chủ | Thông tin bản quyền | Sơ đồ web | Đường dây nóng