3- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực hiện đầu tư ĐT&XD, chi phí trong giai đoạn này có tỷ trọng rất nhỏ trong tổng mức vốn đầu tư, nhưng nó là một giai đoạn hoàn chỉnh “lý lịch” của dự án đã được đầu tư. Nó bao gồm các công việc:
- Bàn giao công trình cho người sử dụng, lập và bàn giao hồ sơ hoàn công, đưa vào lưu trữ theo pháp luật về lưu trữ của Nhà nước.
- Kết thúc xây dựng trả lại đất mượn hoặc thuê tạm phục vụ thi công. Nghĩa vụ theo hợp đồng xây dựng chỉ được chấm dứt hoàn toàn khi hết thời gian bảo hành công trình.
- Bảo hành công trình: người cung cấp tài liệu, số liệu khảo sát phục vụ thiết kế, xây lắp, nghiệm thu, giám định công trình, chủ nhiệm đề án thiết kế, chủ thầu xây lắp, người cung cấp vật tư thiết bị xây dựng và người giám sát xây dựng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm hoặc kết quả công tác mình thực hiện. Thời hạn bảo hành; quyền, nghĩa vụ về bảo hành của các bên; thủ tục thực hiện và nghĩa vụ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã quy định.
- Vận hành dự án: sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác; hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư.
- Thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư: là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn. Đối với tất cả các dự án đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại, vốn đầu tư của doanh nghiệp mà chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn trả vốn hoặc trả nợ vay thì nguồn vốn đề thu hồi và trả nợ vay bao gồm toàn bộ khấu hao cơ bản, một phần lợi nhuận và các nguồn vốn khác (nếu có).
Trường hợp không thu hồi được vốn và hoàn trả hết nợ vay, chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
III- NHữNG TồN TạI TRONG VIệC QUảN Lý ĐầU TƯ Và XÂY DựNG.
Trong những năm qua bên cạnh những thành tựu và tiến bộ đã đạt được trong ĐT&XD, vẫn còn những mặt yếu kém, bất cập, là quản lý còn lỏng lẻo, dàn trải, thiếu tập trung, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất cập chưa phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển, dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả, nhất là các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn danh nghiệp nhà nước đầu tư còn bị thất thoát và lãng phí nhiều.
Trong báo cáo của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII có đánh giá việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội năm 1991-2000 đã nhận định “ cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý. Tình trạng bao cấp và bảo hộ còn nặng. Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí ” .
Tình trạng “chạy dự án, chạy đấu thầu” đã trở thành “đường dây” như báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá X (tháng 5 năm 2001) đã đề cập. Có những ngành, địa phương muốn ghi kế hoạch đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước có khi vì những lý do ngoài kinh tế. Có khá nhiều trường hợp người ta vẽ ra hiệu quả tính toán khá hấp dẫn trong dự án đầu tư để trình cấp trên duyệt và cấp trên vẫn chấp thuận, xét duyệt, thẩm định theo đúng quy chế. Khi công trình đưa vào sản xuất hoặc sử dụng mới lộ rõ những sai sót thậm chí gian dối trong tính toán. Tình trạng đầu tư tràn lan thực sự rất khó ngăn cản, trong đó có những trường hợp nể nang, kể cả ở những cơ quan có trách nhiệm quản lý quy hoạch và cấp vốn đầu tư xây dựng (thời báo kinh tế Việt Nam, số 72 ngày 15/6/2001).
Lâu nay khi đánh giá về thực hiện kế hoạch đầu tư, thường chỉ nói đến những thành tựu, mà ít nói đến hiệu quả kinh tế của những công trình đã xây dựng, giá thành xây dựng và nhất là phân tích, chỉ rõ những nguyên nhân của những thất thoát lãng phí. Hiện nay, những số liệu công khai về mặt này quá ít, do đó không thể phân tích một cách khoa học, chính xác, chỉ dựa vào những thông tin trên báo chí và được những người trong cuộc thừa nhận rằng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng bằng vốn NSNN thường vào khoảng 20-30% giá trị công trình
Những tiêu cực trong việc nhận dự án và công trình xây dựng, tệ nạn chạy vốn, “lại quả” đang khá phổ biến và công khai. Quy chế đấu thầu không được thi hành nghiêm túc, còn khá phổ biến việc đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu, xét thầu thiếu minh bạch, sự can thiệp bằng thư tay của những thế lực khác nhau, kể cả việc dùng vốn ODA phải chấp nhận nhà thầu, nhà cung cấp, gây ra tình trạng nhiều kết quả xét thầu dự án không còn ý nghĩa cạnh tranh hoặc dẫn đến tranh chấp khiếu nại.
Có thể thấy hiện nay các nguyên tắc về XDCB không được tuân thủ nghiêm túc, lại không được kiểm tra chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho tham nhũng, thất thoát. Tình trạng lập hồ sơ nghiệm thu gian dối, khai khống khối lượng trong thiết kế- tổng dự toán và quyết toán, khai vượt dự toán và thu chi; bớt vật liệu, đánh tráo vật liệu từ tốt sang xấu, thay đổi chủng loại vật tư, sửa thiết kế, thuê lao động nông nhàn để thi công sau khi trúng thầu làm giảm chất lượng công trình hoặc khai tăng vật tư, công việc (nói là phát sinh) để quyết toán thêm không còn là chuyện cá biệt. Muốn thực hiện trót lọt, nhà thầu phải “đi đêm” với chủ đầu tư và tư vấn giám sát.
Những đồng tiền của NSNN bị thất thoát này người ta thường gọi là “tiền đen” hay “đi đêm”, “chi chung”, làm “quân xanh, quân đỏ”, hối lộ để thắng thầu (Báo gia đình và Xã hội số ngày tháng 6 năm 2001). Những đồng tiền này lại nằm trong giá trị quyết toán vốn đầu tư của Nhà nước tức là nằm trong giá thành công trình, nó được tập hợp dần vào công trình trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
(Còn nữa)
|